Chính sách quản lý phân bón Việt Nam (Phần 2): Khảo nghiệm, miễn khảo nghiệm và những thay đổi năm 2026
Bốn nhóm phân bón không phải khảo nghiệm theo Luật Trồng trọt, những văn bản mới năm 2026 và một điểm hay bị bỏ qua trong quy chuẩn chất lượng: ngưỡng tối đa.
Ở Phần 1, chúng ta đã đi từ cơ chế danh mục năm 2003 đến lúc chuyển sang công nhận lưu hành năm 2017. Phần này nói về khung pháp lý đang áp dụng. Đây là phần doanh nghiệp cần nắm khi làm hồ sơ.
Luật Trồng trọt: miễn khảo nghiệm được nâng lên thành luật
Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14 có hiệu lực từ ngày 01/01/2020. Cùng ngày, Nghị định 84/2019/NĐ-CP về quản lý phân bón cũng có hiệu lực. Nghị định này sau đó được sửa đổi bởi Nghị định 130/2022/NĐ-CP.
Điểm khác biệt quan trọng so với trước là các trường hợp không phải khảo nghiệm được quy định thẳng trong luật, tại khoản 2 Điều 39, chứ không còn nằm ở nghị định. Muốn thay đổi danh sách này phải sửa luật. Vì vậy nó ổn định hơn nhiều.
Khoản 1 Điều 39 đặt nguyên tắc: phân bón phải khảo nghiệm trước khi được công nhận lưu hành. Khoản 2 liệt kê bốn nhóm ngoại lệ:
Phân bón hữu cơ dùng bón rễ, chỉ chứa chất hữu cơ tự nhiên và đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Phân bón vô cơ đơn dùng bón rễ, chỉ chứa một trong ba nguyên tố N, P hoặc K và đạt quy chuẩn.
Phân bón vô cơ phức hợp dùng bón rễ, chỉ chứa N, P, K liên kết với nhau bằng liên kết hóa học và đạt quy chuẩn.
Phân bón đã được công nhận là tiến bộ kỹ thuật.
Ngoài bốn nhóm này, mọi loại khác đều phải khảo nghiệm. Thường gặp nhất là phân bón lá, NPK hỗn hợp (phối trộn cơ học, không phải phức hợp), phân có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng, phân vi sinh, và các sản phẩm có amino acid, humic, fulvic hay chiết xuất rong biển mà không rơi vào nhóm miễn.
Có một lỗi rất hay gặp: nhìn tên nguyên liệu để đoán nghĩa vụ khảo nghiệm. "Có humic thì phải khảo nghiệm", "hữu cơ thì được miễn"… đều là cách hiểu sai. Thứ quyết định là công thức thực tế, cách dùng (bón rễ hay bón lá) và loại phân bón theo quy chuẩn.
Bốn việc khác nhau, đừng lẫn với nhau
Trong thực tế, nhiều người dùng lẫn lộn các khái niệm sau:
Khảo nghiệm: thử trên đồng ruộng để đánh giá hiệu quả nông học, cách dùng, tác động môi trường.
Thử nghiệm chất lượng: phân tích trong phòng thí nghiệm xem hàm lượng các chỉ tiêu có đúng không.
Chứng nhận hợp quy: đánh giá sản phẩm có phù hợp quy chuẩn kỹ thuật không.
Công nhận lưu hành: quyết định hành chính cho phép sản phẩm được lưu hành.
Một sản phẩm được miễn khảo nghiệm vẫn phải thử nghiệm chất lượng, vẫn phải hợp quy, vẫn phải có quyết định công nhận lưu hành và ghi nhãn đúng. Miễn khảo nghiệm chỉ là bỏ đi một bước, không phải bỏ đi trách nhiệm về chất lượng.
Năm 2026: nhiều văn bản mới trong một năm
Từ tháng 3/2025, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hợp nhất với Bộ Tài nguyên và Môi trường thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Cơ quan trực tiếp xử lý hồ sơ phân bón hiện nay là Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật. Kéo theo việc sắp xếp bộ máy là một loạt văn bản sửa đổi.
Luật số 146/2025/QH15 (hiệu lực từ 01/01/2026) sửa đổi một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, trong đó có Luật Trồng trọt. Những phần liên quan đến phân bón gồm điều kiện của tổ chức khảo nghiệm, điều kiện sản xuất, buôn bán và thẩm quyền quản lý, được điều chỉnh cho phù hợp với bộ máy mới. Bốn nhóm miễn khảo nghiệm tại khoản 2 Điều 39 vẫn giữ nguyên.
Nghị định 33/2026/NĐ-CP ngày 21/01/2026 sửa đổi, bổ sung cùng lúc nhiều nghị định trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật, trong đó có Nghị định 84/2019. Một trong các nội dung là hồ sơ, trình tự và thẩm quyền công nhận tổ chức khảo nghiệm phân bón. Các thông tư hướng dẫn đi kèm cũng được ban hành trong năm, như Thông tư 07/2026/TT-BNNMT và Thông tư 22/2026/TT-BNNMT về phân cấp, cắt giảm thủ tục.
Luật số 21/2026/QH16 ngày 25/8/2026 sửa đổi một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, trong đó có Luật Trồng trọt. Luật có hiệu lực từ 01/01/2027. Doanh nghiệp đang kinh doanh phân bón nên đọc kỹ văn bản này, vì một số điều kiện kinh doanh có thể thay đổi chỉ sau một năm áp dụng Luật 146.
Lời khuyên thực tế: đừng đọc bản gốc Nghị định 84/2019 rồi làm hồ sơ. Hãy tìm văn bản hợp nhất mới nhất, hoặc đọc bản gốc cùng tất cả các văn bản sửa đổi.
QCVN 106:2025/BNNMT: quy chuẩn chất lượng mới
Thay đổi ảnh hưởng trực tiếp nhất đến sản phẩm là QCVN 106:2025/BNNMT, ban hành kèm Thông tư 86/2025/TT-BNNMT ngày 31/12/2025. Quy chuẩn có hiệu lực từ 30/6/2026 và thay thế QCVN 01-189:2019/BNNPTNT.
Quy chuẩn không chỉ liệt kê tên loại phân bón. Nó quy định cách phân loại, chỉ tiêu chất lượng chính, yếu tố hạn chế và phương pháp thử. Vì vậy, đổi quy chuẩn có thể dẫn đến chuyện một sản phẩm đang là loại này trở thành loại khác.
Về chuyển tiếp, sản phẩm đã có quyết định công nhận lưu hành theo QCVN 01-189:2019 mà không còn phù hợp quy chuẩn mới vẫn được tiếp tục áp dụng các yêu cầu cũ để công bố hợp quy và ghi nhãn đến hết thời hạn quyết định. Khi gia hạn hoặc cấp lại, cơ quan quản lý sẽ xem xét điều chỉnh loại phân bón, thành phần và tên chỉ tiêu cho phù hợp QCVN 106. Doanh nghiệp có quyết định sắp hết hạn nên rà soát từ bây giờ, đừng đợi đến lúc nộp hồ sơ.
Điểm hay bị bỏ qua: quy chuẩn có cả ngưỡng tối đa
Khi nói đến chất lượng phân bón, phần lớn mọi người chỉ nghĩ đến ngưỡng tối thiểu: đạm phải đủ bao nhiêu, hữu cơ phải đạt bao nhiêu. Trong quy chuẩn còn một loạt chỉ tiêu theo chiều ngược lại, tức là không được vượt. Với những chỉ tiêu này, vượt cũng là không đạt, kể cả khi hàm lượng dinh dưỡng rất tốt.
Có thể chia làm ba loại.
Một là yếu tố hạn chế và chất gây hại. Kim loại nặng (asen, cadimi, chì, thủy ngân) có mức tối đa tính theo mg/kg. Phân hữu cơ còn bị khống chế vi sinh vật gây bệnh như Salmonella, E. coli. Một số loại phân vô cơ có giới hạn tạp chất riêng, ví dụ biuret trong urê hay axit tự do trong phân lân. Độ ẩm cũng là chỉ tiêu tối đa. Sản phẩm vượt các mức này là không đạt chất lượng, dù NPK có cao đến đâu.
Hai là chất điều hòa sinh trưởng. Với phân bón có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng, tổng hàm lượng các chất này bị khống chế ở mức rất thấp. Quy chuẩn cũ đặt ngưỡng dưới 0,5% khối lượng. Lý do dễ hiểu: các chất như GA3, NAA, IBA, 6-BA tác động ở nồng độ rất nhỏ. Khi hàm lượng vượt quá vai trò "bổ sung", sản phẩm không còn đúng bản chất là phân bón nữa và có thể phải quản lý theo pháp luật về thuốc bảo vệ thực vật.
Ba là ngưỡng phân loại. Đây là loại khó thấy nhất. Mỗi loại phân bón được định nghĩa bằng một khoảng chỉ tiêu. Nếu một phân hữu cơ được bổ sung N, P, K vượt mức của loại "hữu cơ" thì nó trở thành "hữu cơ khoáng". Nếu tỷ lệ C/N vượt mức cho phép thì sản phẩm cũng không còn đạt yêu cầu của phân hữu cơ. Hệ quả không nhỏ: sản phẩm đó ra khỏi nhóm 1 của khoản 2 Điều 39, tức là mất quyền miễn khảo nghiệm. Nhiều trường hợp "đăng ký là hữu cơ, thực chất là phân phối trộn" nằm đúng ở chỗ này.
Vì vậy, khi xây dựng công thức hay rà soát hồ sơ theo QCVN 106, nên kiểm tra theo cả hai chiều: chỉ tiêu nào phải đạt tối thiểu, chỉ tiêu nào không được vượt, và công thức có còn nằm trong khoảng phân loại mình định đăng ký hay không. Mức cụ thể của từng chỉ tiêu phải đối chiếu đúng bảng của loại phân bón tương ứng trong QCVN 106. Không có một con số chung dùng cho mọi sản phẩm.
Văn bản tham chiếu trong phần này: Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14 (Điều 36–40); Nghị định 84/2019/NĐ-CP, sửa đổi bởi Nghị định 130/2022/NĐ-CP và Nghị định 33/2026/NĐ-CP; Luật số 146/2025/QH15; Luật số 21/2026/QH16; Thông tư 86/2025/TT-BNNMT ban hành QCVN 106:2025/BNNMT.
Bài viết mang tính tổng hợp, tham khảo, cập nhật đến tháng 11/2026. Khi làm hồ sơ cụ thể, doanh nghiệp cần đối chiếu văn bản gốc và các văn bản sửa đổi còn hiệu lực.
Đón đọc: Phần 3 – Giấy phép không phải là tất cả: những bất cập trên thị trường (lên ngày 07/11/2026)